Tin Hoạt động >> Nông nghiệp

KẾT QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHIÊN CỨU PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD) TẠI HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

27/04/2020 10:18:09 Xem cỡ chữ Google
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài bệnh hại chính và thử nghiệm các biện pháp phòng trừ trên cây Keo tai tượng.

 1. Đặt vấn đề

Hiện nay, cây Keo tai tượng đang là cây nhập nội được trồng chính tại tỉnh Yên Bái, vì loài cây này có giá trị kinh tế cho thu nhập ổn định với người trồng rừng, dễ gây trồng, sinh trưởng và phát triển tốt. Tính đến năm 2019, diện tích keo của toàn tỉnh khoảng hơn 63 nghìn ha, phân bố chủ yếu tại huyện Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên và một số huyện khác. Riêng huyện Lục Yên, theo thống kê diễn biến rừng của Hạt kiểm lâm huyện, tính đến tháng 10 năm 2019, toàn huyện Lục Yên có khoảng 22.912 ha rừng trồng. Trong đó, diện tích trồng Keo là 12.316 ha tăng 97,4 ha so với đầu năm. Do diện tích rừng trồng keo tăng nhanh nên rừng trồng keo đang phải đối mặt với sự tấn công của bệnh hại, trong đó gây hại nặng là bệnh chết héo chiếm tỷ lệ bị hại phổ biến từ 10% và cao nhất 25%.

 Những cây keo bị nhiễm nấm gây bệnh chết héo làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây, gỗ biến màu thâm đen, sau đó dần chết khô và không có khả năng phục hồi làm ảnh hưởng đến sản lượng rừng Keo tai tượng; Cây bị nhiễm nấm bệnh nhưng chưa chết cũng bị giảm giá thành do gỗ bị biến màu, kém chất lượng, điều này làm cho việc kinh doanh gỗ Keo tai tượng với mục đích làm ván bóc bị ảnh hưởng một cách đáng kể, cụ thể theo giá bán ván bóc của Keo tai tượng loại A (ván đẹp có màu trắng, không bị mấu mắt) giá bán từ 3.100.000 đồng đến 3.700.000 đồng/m3; loại B (ván có màu xanh và đen, thân bị mấu mắt) giá bán từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng/m3; việc cây bị nhiễm bệnh làm giảm sản lượng và độ chênh lệch về giá cả như vậy dẫn đến làm giảm thu nhập và ảnh hưởng đến tâm lý của người trồng rừng.   

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định sự nguy hiểm của nấm Ceratocystis spp. gây bệnh chết héo đối với cây trồng lâm nghiệp, trong đó có Keo tai tượng. Tuy nhiên hiện nay chúng có diễn biến phức tạp, phát triển nhanh trên địa bàn các huyện, việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn vì chưa có nghiên cứu đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh phát triển, đặc điểm sinh thái và các biện pháp phòng trừ.

Chính vì vậy, để phòng trừ bệnh chết héo trên cây Keo tai tượng cần nghiên cứu xác định rõ đặc điểm sinh học, sinh thái của loài nấm gây bệnh từ đó làm cơ sở cho nghiên cứu các biện pháp phòng trừ là rất cần thiết.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu: Bệnh hại chính (bệnh chết héo do nấmCeratocystis manginecans) trên cây Keo tai tượng từ 3 - 5 năm tuổi.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Lĩnh vực nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài bệnh hại chính và thử nghiệm các biện pháp phòng trừ trên cây Keo tai tượng.

3. Nội dung nghiên cứu và phương pháp bố trí thí nghiệm

3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái loài nấm gây bệnh chết héo.

a) Nghiên cứu về tính gây bệnh của bệnh chết héo bằng cách gây bệnh nhân tạo: Được thực hiện thông qua gây bệnh nhân tạo trên cành và lá Keo tai tượng tại phòng thí nghiệm.

b) Nghiên cứu đặc điểm hình thái bào tử và hệ sợi: Mô tả đặc điểm hệ sợi và bào tử dưới kính hiển vi BX 50 với độ phóng đại (400x). Mô tả hình dạng, màu sắc, kích thước và tốc độ phát triển của hệ sợi trên môi trường các chủng nấm bệnh cũng như kích thước màu sắc và hình dạng bào tử.

c) Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, pH sinh trưởng của nấm gây bệnh: Nuôi nấm gây bệnh trên môi trường nhân tạo với các công thức như sau: Nhiệt độ (5 công thức): 150C, 200C, 250C, 300C, 350C; Ẩm độ (5 công thức): 50%, 60%, 70%, 80%, 90%; pH (4 công thức): 4; 5; 6 và 7.

d) Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái loài bệnh chết héo

- Tiến hành điều tra theo dõi tỷ lệ bị hại và phân cấp bệnh hại ở rừng Keo tai tượng từ 3 năm tuổi đến 5 năm tuổi; trên 24 ô tiêu chuẩn tiến hành phân cấp bị bệnh theo tiêu chuẩn quốc gia về bệnh hại (TCVN8928:2013). Thu số liệu về nhiệt độ, ẩm độ (thu số liệu ở trạm khí tượng thủy văn Lục Yên).

- Thời gian điều tra theo dõi 12 tháng liên tục, định kỳ 10 ngày một lần.

3.2. Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ loài bệnhchết héo Keo tai tượng tại huyện Lục Yên

a) Biện pháp lâm sinh

b) Biện pháp sinh học

+ Thực hiện ở nơi bị bệnh chết héo có mức độ bị hại R<1. Xác định hiệu lực các loại chế phẩm sinh học đối với bệnh chết héo cây Keo tai tượng thông qua 2 bước.

(1) Trong phòng thí nghiệm: Tiến hành thử hiệu lực 4 loại chế phẩm sinh học là: Sat 4SL, Chubeca 1,8SL, Ketomium, AT Vaccino và AT Cu và đối chứng (nước lã).

(2) Ngoài hiện trường

+ Dựa vào kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm lựa chọn 1 loại chế phẩm sinh học có hiệu quả phòng trừ tốt nhất để tiến hành thử thuốc ngoài hiện trường.

+ Sử dụng máy phun thuốc trừ bệnh cao áp phun toàn bộ thân, cành, tán lá.

+ Thuốc được thử trên 10 ô tiêu chuẩn (3 ô tiêu chuẩn phun thuốc x 3 lần lặp = 9 ô tiêu chuẩn và 1 ô tiêu chuẩn đối chứng không phun), diện tích ô tiêu chuẩn là 1.000 m2 (25x40m), các ô tiêu chuẩn được bố trí khoảng cách xa nhau tối thiểu 10m nhằm hạn chế ảnh hưởng của các công thức.

+ Thời gian theo dõi: 3 tháng, 10 ngày/lần; Điều tra toàn bộ các cây trong ô tiêu chuẩn và tiến hành điều tra tỷ lệ bị hại và mức độ bị hại ở rừng trồng cây Keo tai tượng.

c) Biện pháp hóa học (Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học để phòng trừ bệnh chết héo trong trường hợp bệnh chết héo có chỉ số bị bệnh R>1)

Xác định hiệu lực các loại thuốc bảo vệ thực vật hoá chất đối với bệnh hại chính cây Keo tai tượng được thực hiện qua 2 bước:

(1) Trong phòng thí nghiệm: Tiến hành thử hiệu lực 4 loại thuốc hóa học là Dr. Green, Revus opti 440SC, Tilt super 300EC, Ridomin gold và đối chứng (nước lã); Thí nghiệm được lặp lại 3 lần.

(2) Ngoài hiện trường

+ Dựa vào kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm lựa chọn 1 loại thuốc hóa học có hiệu quả phòng trừ tốt nhất để tiến hành thử thuốc ngoài hiện trường.

+ Sử dụng máy phun thuốc trừ bệnh cao áp phun toàn bộ thân, cành, tán lá.

+ Thuốc được thử trên 10 ô tiêu chuẩn (3 ô tiêu chuẩn phun thuốc x 3 lần lặp = 9 ôtiêu chuẩn và 1 ô tiêu chuẩn đối chứng không phun), diện tích ô tiêu chuẩn là 1.000 m2 (25x40m), các ô tiêu chuẩn được bố trí khoảng cách xa nhau tối thiểu 10m nhằm hạn chế ảnh hưởng của các công thức.

+ Thời gian theo dõi: 3 tháng, 10 ngày/lần; Điều tra toàn bộ các cây trong ô tiêu chuẩn và tiến hành điều tra tỷ lệ bị hại và mức độ bị hại ở rừng trồng cây Keo tai tượng.

4. Kết quả

4.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài bệnh chết héo tại tỉnh Yên Bái làm cơ sở cho việc đề xuất các biện phòng trừ

4.1.1. Tình hình gây bệnh của bệnh chết héo

Kết quả nghiên cứu gây bệnh nhân tạo cho 38 chủng nấm gây bệnh chết héo trên Keo tai tượng đã phân lập được cho thấy: tính gây bệnh của các chủng nấm Ceratocystis trên keo tai tượng là rất khác nhau. Trong số 38 chủng nấm có 02 chủng nấm gây bệnh cho Keo tai tượng trên lá ở mức nhẹ, 8 chủng nấm gây bệnh ở mức trung bình, 15 chủng nấm gây bệnh ở mức nặng và 13 chủng nấm gây bệnh ở mức rất nặng. Đối với thử nghiệm trên cành có 01 chủng nấm gây bệnh ở mức yếu, 10 chủng nấm gây bệnh ở mức trung bình, 14 chủng nấm gây bệnh ở mức nặng và 13 chủng nấm gây bệnh ở mức rất nặng.

Trong đó sau khi tổng hợp, phân tích nhóm nghiên cứu đã xác định và lựa chọn được 4 chủng nấm (LY5, LY23, W1955, W1967) gây bệnh mạnh nhất ở cả trên cành và trên lá Keo tai tượng đem đi giám định tên khoa học bằng phương pháp sinh học phân tử. Với việc sử dụng cặp mồi βT1a và βT1b để đọc trình tự đoạn gene đã xác định 4 chủng nấm gây bệnh chết héo Keo tai tượng tại Lục Yên đều là nấm Ceratocystis manginecans.

4.1.2. Đặc điểm hình thái bào tử và hệ sợi Ceratocystis manginecans

Sử dụng chủng nấm LY5, LY23, W1955, W1967 (chủng nấm gây bệnh mạnh nhất trong thí nghiệm gây bệnh nhân tạo ở trên) để nghiên cứu đặc điểm hệ sợi và bào tử. Kết quả cho thấy các chủng nấm này đều có đặc điểm hiển vi tương đồng nhau, cụ thể như sau:

- Đặc điểm hệ sợi của nấm gây bệnh: Hệ sợi nấm ngắn và rất thưa, ban đầu hệ sợi màu trắng sau chuyển sang màu xám xanh khi già chuyển sang màu nâu đen, sợi nấm ngắn, xù, mỏng. Sau vài ngày nuôi cấy bắt đầu xuất hiện thể quả và bào tử nấm bệnh.

- Đặc điểm bào tử của nấm gây bệnh

+ Thể quả nấm màu đen, hình cầu có cổ rất dài, trên đỉnh cổ có đống bào tử màu ngà đến màu vàng.

+ Thể quả nấm có đường kính từ 149- 275 µm chiều rộng từ 95- 192 µm, cổ thể quả có chiều dài 250 – 658 µm. Bên trong cổ thể quả có nhiều sợi sếp dọc theo chiều dài cổ, phía trên miệng cổ hở dạng tua rua đây là vị trí phát ra các bào tử hữu tính. Bào tử hữu tính có hình mũ có chiều rộng từ 2,1 – 4,7 µm, chiều dài từ 4,5 - 9,0 µm. Bào tử vô tính được sinh ra từ sợi sơ sinh có hình trụ có chiều rộng từ 1,8 – 4,5 µm chiều dài từ 11,7 – 17,9 µm, bào tử vô tính được sinh ra từ sợi thứ sinh có hình trống chiều rộng từ 2,7 – 6,0 µm chiều dài từ 4,5 – 10,5 µm. Bào tử áo dài từ 21,0 μm đến 24,5 μm, rộng từ 10,0 μm đến 13,5 μm.

4.1.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, pH sinh trưởng của nấm gây bệnh

Qua kết quả các công thức thí nghiệm cho thấy

- Các chủng nấm Ceratocystis manginecans sinh trưởng tốt chủ yếu tập trung vào khoảng nhiệt độ từ 20 - 30oC, thang nhiệt độ 150C nấm phát triển chậm hơn.

- Sợi nấm Ceratocystis manginecans sinh trưởng tốt nhất ở thang độ ẩm từ 80% - 90%. Độ ẩm càng thấp thì sợi nấm sinh trưởng càng chậm.

- Các chủng nấm Ceratocystis manginecans sinh trưởng tốt ở môi trường pH trung bình và hơi kiềm, sinh trưởng chậm lại khi môi trường có tính axit tăng.

4.2. Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh héo Keo tai tượng tại huyện Lục Yên

4.2.1. Kết quả thử nghiệm lâm sinh

Đề tài tiến hành thử nghiệm biện pháp lâm sinh tại rừng trồng Keo tai tượng của hộ ông Ngô Thanh Kiên tại Thôn 4 Thuồng, xã Phúc Lợi, huyện Lục Yên. Thông qua kết quả thu thập cho biết: mật độ cây, thời điểm tỉa cành và cách thức tỉa cành có ảnh hưởng đến tình hình bị bệnh chết héo của Keo tai tượng. Tỉa cành vào thời điểm mùa xuân mưa phùn ẩm là điều kiện lý tưởng cho nấm phát triển, nhưng do tỉa cành bằng cưa và kéo cắt cành, vết thương mau lành, diện tích vết thương nhỏ không thuận lợi cho nấm tiếp xúc vào vết thương, do đó ở cả 2 mật độ tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bị bệnh của công thức tác động đều không tăng. Trong khi đó, ở công thức đối chứng cả tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bị bệnh chết héo trên ô tiêu chuẩn đều tăng nhanh. Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy chặt tỉa cây đúng kỹ thuật vào mùa sinh trưởng của nấm gây bệnh cũng không khiến bệnh phát triển và lây lan. Tuy nhiên, trong công tác phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng vẫn nên khuyến cáo người dân tỉa cành vào mùa khô (tháng 11 và 12) nhằm hạn chế hơn nữa khả năng xâm nhiễm của nấm gây bệnh (do thời điểm này nhiệt độ và ẩm độ đều không thuận lợi để nấm gây bệnh phát triển).

4.2.2. Kết quả thử nghiệm biện pháp sinh học

* Kết quả thử nghiệm hiệu lực của chế phẩm sinh học trong phòng thí nghiệm

Thử nghiệm thuốc trong phòng thí nghiệm được thực hiện với 4 loại thuốc trừ bệnh sinh học với mục đích tìm ra 1 loại thuốc có hiệu lực cao nhất để thực hiện phun thử nghiệm ngoài hiện trường. Thí nghiệm được thực hiện qua 4 công thức (CT) có đối chứng.

- CT1 dùng chế phẩm Sat 4SL (chứa hoạt chất Cytosinpeptidemycin 4%)

- CT2 dùng chế phẩm Chubeca 1,8SL  (chứa hoạt chất Polyphenol 1,8g/l)

- CT3 dùng chế phẩm Ketomium (chứa hoạt chất Chaetomium cupreum 1,5x106 CFU/g)

- CT4 dùng chế phẩm AT Vaccino và AT Cu (chứa hoạt chất Chaetomium, trichoderma, và đồng nano)

- CT5 Đối chứng (nước lã).

Thí nghiệm phòng trừ được thực hiện ở trong phòng thí nghiệm thời gian thử nghiệm như sau: Ngày 11/4/2019 thử thuốc lặp 1; ngày 15/4/2019 thử thuốc lặp 2; và ngày 20/4/2019 thử thuốc lặp 3.

Kết quả cho thấy, phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng bằng chế phẩm sinh học AT Vaccino và AT Cu có  Chaetomium, trichoderma và đồng nano là có hiệu lực cao nhất sau 7 ngày đường kính vòng ức chế đạt 30,35 mm; trong khi đó sử dụng chế phẩm Chubeca 1,8SL có Polyphenol 1,8g/l và Ketomium có Chaetomium cupreum 1,5x106CFU/g hiệu quả thấp hơn, với đường kính vòng ức chế lần lượt là 3,85 mm và 19,76 mm sau 7 này thử nghiệm.

Từ kết quả thử nghiệm, đã xác định, lựa chọn được chế phẩm sinh học AT Vaccino và AT Cu có Chaetomium, trichoderma và đồng nano cho thực hiện phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng ngoài hiện trường.

* Kết quả thử nghiệm hiệu lực của chế phẩm sinh học ngoài hiện trường

Đề tài đã thực hiện thử nghiệm hiệu lực của  chế phẩm sinh học AT Vaccino và AT Cu có Chaetomium, trichoderma và đồng nano phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng ngoài hiện trường.

Thời gian thử nghiệm từ cuối tháng 8 đến tháng giữa tháng 11 năm 2019, tại 10 ô tiêu chuẩn (3 ô tiêu chuẩn x 3 lần lặp = 9 ô tiêu chuẩn và 1 ô đối chứng không phun) rừng Keo tai tượng từ 3-5 năm tuổi của hộ ông Ngô Thanh Kiên tại Thôn 4 Thuồng, Xã Phúc Lợi, Huyện Lục Yên.

Sau khi theo dõi thu thập, tổng hợp kết quả cho thấy phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng bằng chế phẩm AT Vaccino và AT Cu có Chaetomium, Trichoderma và đồng nano ở rừng Keo tai tượng 3-5 năm tuổi bước đầu có hiệu quả, hiệu lực phòng trừ đạt 71,44%. trong khi đó  tỷ lệ và chỉ số bị bệnh của công thức đối chứng ngày không áp dụng ngày càng cao (sau 3 tháng, mức độ tỷ lệ cây bị bệnh tăng lên 9,64%). Như vậy có thể sử dụng chế phẩm AT Vaccino và AT Cu có Chaetomium, Trichoderma và đồng nano để phun trong phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng.

4.2.3. Kết quả thử nghiệm biện pháp hóa học

* Kết quả thử nghiệm hiệu lực của thuốc hóa học trong phòng thí nghiệm

Tương tự như viện pháp sinh học thử nghiệm thuốc hóa học trong phòng thí nghiệm cũng thực hiện với 4 loại thuốc với mục đích tìm ra 1 loại thuốc có hiệu lực cao nhất để thực hiện phun ngoài hiện trường. Thí nghiệm được thực hiện qua 4 công thức (CT) có đối chứng.

- CT1 dùng Dr. Green (chứa hoạt chất Propineb 600g/l + chlorothalonil 200g/kg).

- CT2 dùng chế phẩm Chubeca 1,8SL  (chứa hoạt chất Chlorothalonil 400g/l + Mandipropamid 40g/l).

- CT3 dùng Tilt super 300EC (chứa hoạt chất Difenoconazole 150 g/l + propiconazole 150g/l).

- CT4 dùng Ridomin gold (chứa hoạt chất Metalaxyl M 40 g/kg + mancozeb 640g/kg).

- CT5 Đối chứng (nước lã).

Thí nghiệm phòng trừ được thực hiện ở trong phòng thí nghiệm thời gian thử nghiệm như sau: Ngày 09/5/2019 thử thuốc lặp 1; Ngày 12/5/2019 thử thuốc lặp 2; và ngày 17/5/2019 thử thuốc lặp 3. 

Kết quả cho thấy, phòng trừ bệnh chết héo Keo tai tượng bằng thuốc hóa học có hiệu quả tốt, sau 7 ngày thử nghiệm thuốc Tilt super 300EC chứa hoạt chất Difenoconaze 150g/l+ propiconazole 150g/l cho hiệu lực tốt nhất (đường kính vòng ức chế đạt 41,09 mm), thuốc Ridomin gold có hoạt chất là Metalaxyl M 40 g/kg + mancozeb 640g/kg cũng cho kết quả tốt tương đương. Tuy nhiên thuốc Tilt super 300EC cho hiệu lực tốt hơn, hiệu lực ức chế lâu dài và hệ sợi nấm phát triển thưa hơn. Vì vậy, thuốc Tilt super 300EC là thuốc thích hợp, phù hợp để thử nghiệm phòng trừ ngoài hiện trường.

* Kết quả áp dung biện pháp hóa học ở ngoài hiện trường

Từ kết quả thử nghiệmhiệu lực của thuốc hóa học phòng trừ bệnh chết héo trong phòng thí nghiệm. Đề tài đã thực hiện thử nghiệm hiệu lực của Tilt super 300EC ngoài hiện trường.

Thời gian thử nghiệm từ cuối tháng 8 đến tháng giữa tháng 11 năm 2019 tại 10 ô tiêu chuẩn (3 ô tiêu chuẩn x 3 lần lặp = 9 ô tiêu chuẩn và 1 ô đối chứng không phun) rừng Keo tai tượng từ 3-5 năm tuổi của hộ ông Ngô Xuân Quyết - Thôn 3 Thuồng, xã Phúc Lợi, huyện Lục Yên. Ô tiêu chuẩn được lập có chỉ số bị bệnh R>1. 

Sau khi theo dõi thu thập, tổng hợp kết quả cho thấy: tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bệnh của Keo tai tượng sau khi áp dụng biện pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học Tilt super 300EC đã giảm đi đáng kể so với trước khi áp dụng. Công thức phun thuốc Tilt super 300EC cho hiệu lực phòng trừ đạt 81,73%. Ngược lại, tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bệnh ở công thức đối chứng không phun có tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bị bệnh đều tăng.

Kết luận sơ bộ: So sánh với việc sử dụng chế phẩm sinh học thì việc sử dụng thuốc hóa học cho hiệu quả phòng trừ cao hơn nhưng không đáng kể. Bên cạnh đó sử dụng thuốc hóa học gây hại cho môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏa của con người và vật nuôi. Vì vậy, đề  tài không khuyến cáo việc sử dụng thuốc trừ bệnh hóa học trong việc phòng trừ bệnh chết héo, chỉ khuyến cáo sử dụng trong trường hợp có dịch lớn và đã sử dụng các chế phẩm sinh học nhưng vẫn không quản lý được tình hình bệnh hại. Chỉ nên áp dụng phun thuốc hóa học khi rừng keo còn nhỏ tuổi và phải kết hợp đồng bộ với các biện pháp khác.

5. Kết luận và kiến nghị

5.1. Kết luận

5.1.1. Đã xác định được đặc điểm sinh học và sinh thái của ệnh chết héo Keo tai tượng. cụ thể:

- Hệ sợi nấm ngắn và rất thưa, ban đầu hệ sợi màu trắng sau chuyển sang màu xám xanh khi già chuyển sang màu nâu đen, sợi nấm ngắn, xù, mỏng. Sau vài ngày nuôi cấy bắt đầu xuất hiện thể quả và bào tử nấm bệnh.

- Đặc điểm bào tử của nấm: Thể quả nấm màu đen, hình cầu có cổ rất dài, trên đỉnh cổ có đống bào tử màu ngà đến màu vàng; Thể quả nấm có đường kính từ 149- 275 µm chiều rộng từ 95- 192 µm, cổ thể quả có chiều dài 250 – 658 µm. Bên trong cổ thể quả có nhiều sợi sếp dọc theo chiều dài cổ, phía trên miệng cổ hở dạng tua rua đây là vị trí phát ra các bào tử hữu tính. Bào tử hữu tính có hình mũ có chiều rộng từ 2,1 – 4,7 µm, chiều dài từ 4,5 - 9,0 µm. Bào tử vô tính được sinh ra từ sợi sơ sinh có hình trụ có chiều rộng từ 1,8 – 4,5 µm chiều dài từ 11,7 – 17,9 µm, bào tử vô tính được sinh ra từ sợi thứ sinh có hình trống chiều rộng từ 2,7 – 6,0 µm chiều dài từ 4,5 – 10,5 µm. Bào tử áo dài từ 21,0 μm đến 24,5 μm, rộng từ 10,0 μm đến 13,5 μm.

- Các chủng nấm Ceratocystis manginecans sinh trưởng tốt chủ yếu tập trung vào khoảng nhiệt độ từ 20 - 30oC, thang nhiệt độ 150C nấm phát triển chậm hơn.

- Sợi nấm Ceratocystis manginecans sinh trưởng tốt nhất ở thang độ ẩm từ 80% - 90%. Độ ẩm càng thấp thì sợi nấm sinh trưởng càng chậm.

- Các chủng nấm Ceratocystis manginecans sinh trưởng tốt ở môi trường pH trung bình và hơi kiềm, sinh trưởng chậm lại khi môi trường có tính axit tăng.

5.1.2. Đã xác định được các biện pháp phòng trừ bệnh chết héo

+ Biện pháp lâm sinh:  Tỉa cành bằng kéo cắt đầu cành hoặc cắt sát thân, gốc cây, vết cắt nên mịn và gọn. Thời điểm tỉa cành phù hợp là mùa khô (tháng 11 đến tháng 12).

+ Biện pháp sinh học: Phun thuốc sinh học AT Vaccino và AT Cu có Chaetomium, trichoderma và đồng nano cho hiệu lực phòng trừ đạt 71,44%.

 + Biện pháp hóa học: Phun thuốc hóa học Tilt super 300EC chứa hoạt chất Difenoconazole 150 g/l + propiconazole 150g/l cho hiệu lực phòng trừ  đạt 81,73%.

5.2. Kiến nghị

Bệnh chết héo Keo tai tượng hiện nay đang ngày càng lây lan ra diện rộng do khí hậu của nước ta nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng là phù hợp cho cho nấm Ceratocystis manginecans phát triển. Vì vậy các đơn vị quản lý về lĩnh vực Bảo vệ thực vật nên khuyến cáo cho bà con trồng rừng Keo tai tượng và theo dõi thường xuyên, định kỳ 10 ngày đi kiểm tra rừng 1 lần. Tỉa cành vào mùa khô, tuyệt đối không tiến hành chặt tỉa vào mùa mưa. Khi thấy có cây Keo tai tượng có biểu hiện bị bệnh chết héo trong lâm phần tiến hành phun thuốc sinh học ngay để phòng bệnh lây lan (đối với rừng tuổi nhỏ), kết hợp với việc chặt tỉa và di chuyển những cây bị bệnh cấp 4 ra khỏi rừng và tiêu hủy.

Ngoài ra cây Keo tai tượng cũng bị mọt đục thân tương đối nhiều cần đặt bẫy bắt mọt để hạn chế mọt mang nấm Ceratocystis manginecans di chuyển và lây sang các cây khác.

Đinh Khắc Tiến

 Phòng quản lý khoa học

15oC

Thấp nhất 13°C, cao nhất 17°C. Trời nhiều mây, . Áp suất không khí hPa.
Độ ẩm trung bình %. Tốc độ gió km/h