Tin Hoạt động >> Chung

KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ VÀ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI NĂM 2020

29/12/2020 09:58:58 Xem cỡ chữ Google
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ sản xuất trên địa bàn tỉnh; Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ xây dựng Kế hoạch điều tra, đánh giá trình độ và năng năng lực công nghệ cho 70 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chủ yếu trên địa bàn tỉnh theo Thông tư 17/2019/TT-BKHCN

Hội nghị tập huấn, hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Việc điều tra được triển khai gồm 26 nội dung, cụ thể như sau: Mức độ khấu hao thiết bị, công nghệ; Cường độ vốn thiết bị, công nghệ; Mức độ đổi mới thiết bị, công nghệ; Mức độ tự động hóa và tích hợp sản xuất; Tỷ lệ chi phí năng lượng sản xuất; Tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu sản xuất; Tiêu chuẩn sản phẩm của dây chuyền công nghệ sản xuất; Năng suất lao động; Mức độ áp dụng sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất; Năng lực bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, dây chuyền, thiết bị của doanh nghiệp; Khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ; Chất lượng nguồn nhân lực; Tỷ lệ chi phí cho đào tạo, huấn luyện; Thông tin phục vụ sản xuất, quản lý; Quản lý hiệu suất thiết bị tổng thể; Áp dụng tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; Bảo vệ môi trường; Ứng dụng công nghệ thông tin; Chi phí thông tin; Nhân lực dành cho nghiên cứu, phát triển; Hạ tầng dành cho nghiên cứu, phát triển; Quỹ phát triển khoa học và công nghệ và đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, phát triển; Kết quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm; Kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ; Năng lực liên kết hợp tác nghiên cứu, phát triển; Năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp.

Để thu thập đủ 70 phiếu,nhóm điều tra đã tiến hành gửi dự phòng thành 80 phiếu điều tra kết hợp trực tiếp đến doanh nghiệp để thu thập thông tin, tuy nhiên do việc điều tra gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid19 nên số phiếu thu về chỉ có 62 phiếu

          Trong số 62 doanh nghiệp điều tra thì loại hình Hợp tác xã chiếm đa số với  32 doanh nghiệp, chiếm 32%; kế đến là loại hình công ty TNHH với 17 doanh nghiệp, tỷ lệ 27%; loại hình Công ty cổ phẩn có 11 doanh nghiệp, chiếm 18%; doanh nghiệp Tư nhân đứng thứ 4 với 7 doanh nghiệp, tỷ lệ 11% và cuối cùng là loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài và loại hình khác (gồm các hộ kinh doanh) lần lượt là 2 (tỷ lệ 3%), 1 (2%) và 4 (6%).

Về quy mô doanh nghiệp xét theo số lượng lao động: trong số 62 doanh nghiệp thì có đến 57 doanh nghiệp có quy mô nhỏ với số lượng lao động nhỏ hơn 100 người, 2 doanh nghiệp có quy mô vừa với số lượng lao động trong khoảng 100-200, và 3 doanh nghiệp có quy mô lớn với số lao động trên 200 và dưới 3000 người. Trong 4 ngành nghề điểu tra thì chỉ có ngành Sản xuất hóa chất không có doanh nghiệp lọt top doanh nghiệp có quy mô vừa hoặc lớn.

             Tỷ lệ chọn mẫu số lượng doanh nghiệp đánh giá thuộc các ngành khá là tương đồng và không có sự chênh lệch quá lơn. Đứng đầu là ngành sản xuất Vật liệu xây dựng với tỷ lệ 31% tương ứng với tỷ lệ chọn mẫu là 19 doanh nghiệp, tiếp đến ngành Chế biến chè với tỷ lệ 29%, số lượng doanh nghiệp là 18. Ngành Sản xuất hóa chất và ngành chế biến gỗ tỷ lệ lần lượt là 21 và 19% tương ứng lần lượt là 13 và 12 doanh nghiệp.

Kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tỉnh Yên Bái như sau:

                      Biểu tổng hợpTrình độ và năng lực công nghệ các ngành đánh giá

Tên

Hệ số

Tổng điểm

Nhóm T

Nhóm E

Nhóm O

Nhóm R

Nhóm I

Chế biến chè

0.354

36/100

12/30

9/20

7/19

4/17

4/14

Vật liệu xây dựng

0.445

46/100

13/30

13/20

8/19

6/17

5/14

Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất

0.326

33/100

10/30

7/20

7/19

4/17

4/14

Chế biến gỗ

0.408

43/100

16/30

11/20

8/19

5/17

4/14

Cả 4 ngành tiến hành đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất năm 2020 đều đạt mức trình độ và năng lực công nghệ trung bình. Kết quả khá tương đồng với kết quả đánh giá trình độ công nghệ tỉnh Yên Bái đã đánh giá năm 2015 và 2016. Trong đó cao nhất là ngành Sản xuất vật liệu xây dựng với hệ số mức độ đồng bộ đạt 0.44 điểm và thấp nhất là ngành chế biến chè với điểm số đạt 0.35 điểm.

* Nhóm hiện trạng, thiết bị công nghệ (T)

          Qua số liệu điều tra khảo sát cho thấy phần lớn máy móc thiết bị của 62 doanh nghiệp được lắp đặt từ năm 2015 trở lại đây nên tỷ lệ khấu hao thấp, tỷ lệ khấu hao phần lớn nằm ở mức dưới 60%. Có một số doanh nghiệp chỉ có tỷ lệ khấu hao dưới 20%. Tuy máy móc được đầu tư lắp đặt trong vòng 5 năm trở lại đây nhưng số vốn doanh nghiệp bỏ ra để mua sắm thiết bị công nghệ không cao, có 18 doanh nghiệp có số vốn đầu tư cho máy móc, thiết bị dưới 1 tỷ; 32 doanh nghiệp có số vốn đầu tư cho máy móc từ 5-10 tỷ và chỉ có 12 doanh nghiệp có số vốn đầu tư trên 10 tỷ. 

Về mức độ tự động hóa và tích hợp sản xuất thì các doanh nghiệp trong đợt điều tra, khảo sát năm 2020 hầu hết chưa áp dụng giải pháp quản lý sản xuất tự động như Hệ thống thu thập dữ liệu sản xuất (PDA, SCADA), hệ thống thu thập dữ liệu máy móc (MDC) hoặc hệ thống sản xuất tích hợp (CIM). Do chưa áp dụng các giải pháp quản lý sản xuất nên các sản phẩm của doanh nghiệp chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn như tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn quốc gia hay cao hơn là tiêu chuẩn quốc tế.

Nhóm hiệu quả khai thác công nghệ (E)

Tổng số lao động của 62 doanh nghiệp là 2736 lao động, tương đương với bình quân một doanh nghiệp giải quyết việc làm cho 44 lao động. Tuy số lượng lao động bình quân của một doanh nghiệp khá cao nhưng sự phân bố không đồng đều, điều này có được do một số doanh nghiệp có số lao động lớn  như Công ty TNHH đá cẩm thạch RK Việt Nam (382 lao động) hay Công ty TNHH ngành gỗ Thiên An Việt Nam (367 lao động), còn lại rất nhiều doanh nghiệp có số lao động dưới 20 người. Về chất lượng nguồn nhân lực thì trong 2736 lao động tại các doanh nghiệp thì chỉ có 4 lao động chuyên làm công tác nghiên cứu, 29 lao động xếp hạng công nhân bậc cao, 554 lao động có trình độ cao đẳng trở lên và 1218 lao động là đã được huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Điều này cho thấy chất lượng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp không cao, các doanh nghiệp có xu hướng tận dựng nguồn nhân lực tại địa phương với trình độ thấp.

Do trình độ lao động không cao cho nên năng suất lao động thể hiện qua giá trị gia tăng bình quân của một lao động trong doanh nghiệp tạo ra trong một năm còn thấp, một lao động chỉ tạo ra mức giá trị gia tăng bình quân một năm lớn hơn 37 triệu và nhỏ hơn 75 triệu. Đồng thời điểm số của tiêu chí số 10 thể hiện năng lực sửa chữa bảo dưỡng của cho thấy các doanh nghiệp thường có xu hướng bảo dưỡng và sửa chữa khi máy móc thiết bị có sự cố chứ ít khi chủ động có những hoạt động như bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ hay bảo dưỡng, sửa chữa chẩn đoán tổng thể. Do không có sự chủ động trong việc bảo dưỡng máy móc nên hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ít nhiều bị ảnh hưởng.

           * Nhóm năng lực tổ chức - quản lý

          Tổng chi cho đào tạo huấn luyện của 62 doanh nghiệp trong 3 năm 2017, 2018, 2019 vừa qua là 469 triệu, mức chi đào tạo chủ yếu tập trung đào tạo cho cán bộ quản lý tại doanh nghiệp. Điều này cho thấy doanh nghiệp chưa chú trọng nhiều đến khâu đào tạo cho bộ phận nhân lực của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là vốn quý nhất của xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng

Điểm số của tiêu chí số 16 rất thấp, đa số các doanh nghiệp chỉ đạt 1 điểm cho thấy doanh nghiệp chưa áp dụng các nội dung thông tin phục vụ sản xuất và quản lý như hệ thống thực hành sản xuất (MES), Lập kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp (ERP), Quản lý vòng đời sản phẩm (PLM), Quản lý dữ liệu sản phẩm (PDM), Hệ thống lập kế hoạch sản xuất (PPS), Quản lý chuỗi cung ứng (SCM).

Với chất lượng không khí ngày càng ô nhiễm nặng, việc xử lý và gìn giữ môi trường phải được các doanh nghiệp ưu tiên hàng đầu, nhất là với những ngành công nghiệp như sản xuất hóa chất, sản xuất vật liệu xây dựng. Có một điều đáng mừng là hầu hết các doanh  nghiệp tham gia khảo sát năm 2020 đều đã có hệ thống xử lý chất thải đáp ứng quy định và đạt tiêu chuẩn hệ thống quản lý môi trường tiên tiến.

            * Nhóm năng lực nghiên cứu, phát triển (nhóm R)

Điểm số thành phần R đạt mức trung bình 7/19 điểm tối đa, cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin tại doanh nghiệp mới dừng ở mức có hệ thống phần cứng, phần mềm (máy vi tính, kết nối Internet,...) đủ để triển khai một số ứng dụng thường xuyên chứ chưa có sự đầu tư ở mức quy mô hơn như: Có hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm tích hợp được ứng dụng trên toàn bộ hoạt động quản lý và tác nghiệp đến từng bộ phận hay Có hệ thống phần cứng, phần mềm đủ để tự động hóa các quy trình tác nghiệp, kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Do đa phần các doanh nghiệp là những doanh nghiệp nhỏ nên tại công tác nghiên cứu và phát triển tại bản thân doanh nghiệp chưa có. Điều này thể hiện ở việc doanh nghiệp chưa có đội ngũ nhân lực cho hoạt động R&D cũng như chưa có hạ tầng dành cho nghiên cứu và phát triển như: Viện, trung tâm nghiên cứu hay thành lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Do không có bộ phận nghiên cứu nên sản phẩm của doanh nghiệp trong 3 năm 2017, 2018, 2019 hầu như không có sự đổi mới về sản phẩm cả về kiểu dáng và chất lượng.

Trong môi trường kinh doanh ngày nay, nếu muốn giữ vững tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường - chưa nói gì đến việc tăng tỷ lệ đó - cần thiết phải xây dựng được hệ thống bảo đảm chất lượng trong doanh nghiệp. Ngày nay, người tiêu dùng coi trọng giá trị của chất lượng hơn là lòng trung thành đối với nhà sản xuất trong nước, và giá cả chưa hẳn trong mọi trường hợp đã là nhân tố quyết định trong sự lựa chọn của người tiêu dùng. Chất lượng đã thay thế giá cả, và điều đó đúng với cả công nghiệp, dịch vụ và nhiều thị trường khác. Vì vậy, việc cải tiến và đổi mới sản phẩm cũng như chất lượng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó quyết định sự sống còn của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Sự cải tiến về mẫu mã và chất lượng nhằm đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng thì sản phẩm được tiêu thụ nhiều hơn, tạo điều kiện cho doanh ngiệp chiếm lĩnh được thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh nhờ đó doanh nghiệp ngày càng đáp ứng vững, phát triển và mở rộng sản xuất, mang lại lợi ích cho mọi đối tượng trong nền kinh tế xã hội.

            * Nhóm năng lực đổi mới sáng tạo (nhóm I)

Đây là nhóm tiêu chí khác biệt nhất và hoàn toàn mới của Thông tư số 17/2019/TT-BKHCN so với thông tư số 04/2014/TT-BKHCN. Tiêu chí này được xây dựng nên nhằm đánh giá việc bắt nhịp cũng như đo lường sự hiểu biết của doanh nghiệp đối với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Thông qua các tiêu chí đánh giá thuộc nhóm I, ta thấy một thực trạng tuy chưa nhiều nhưng rất đáng mừng tại các doanh nghiệp khảo sát lần này là các doanh nghiệp chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển nhưng bản thân doanh nghiệp đã có những sáng kiến nhằm tối ưu năng suất lao động cũng như cải tiến máy móc thiết bị theo hướng giảm thiểu chi phí và tối ưu hóa nguồn nguyên vật liệu đầu vào. Nhưng doanh nghiệp chỉ mới chú trọng ở khâu cải tiến máy móc thiết bị hiện đang sử dụng chứ chưa nghiên cứu và phát triển ra những công nghệ mới hoàn toàn.

Qua khảo sát, làm việc tại các cơ quan quản lý ngành của tỉnh và tham khảo tài liệu Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Yên Bái, có thể nhận thấy tình hình đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp như sau:

– Hoạt động đổi mới công nghệ, ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong sản xuất còn yếu, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, chưa có nhiều sản phẩm có thương hiệu; việc mua bán công nghệ diễn ra chậm, số lượng ít. Các doanh nghiệp địa phương chưa tận dụng được cơ hội tiếp cận các công nghệ của doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn của tỉnh. Doanh nghiệp hoạt động vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công; sử dụng thiết bị công nghệ không đồng bộ từ lạc hậu, trung bình đến tiên tiến; có năng lực để tiếp nhận công nghệ tiên tiến vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp.

– Nguồn kinh phí đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp trong tỉnh cũng ở mức rất. Các doanh nghiệp chưa chủ động đầu tư nhằm nâng cao trình độ, năng lực công nghệ của chính bản thân các doanh nghiệp.

– Nhân lực KH&CN làm việc trong doanh nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, trình độ chuyên môn chưa cao, nhân lực thực hiện các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, thích nghi, làm chủ công nghệ trong các doanh nghiệp còn ít, do vậy hạn chế đến việc tiếp thu công nghệ tiên tiến từ bên ngoài chuyển giao cho doanh nghiệp và chưa chủ động được việc tìm kiếm công nghệ, tổ chức hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN để giải quyết các vấn đề đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ do doanh nghiệp đặt ra.

– Một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn đã có phòng, ban kỹ thuật, NC&PT, có phòng LAS, VILAS song chưa tiến hành hoạt động NC&PT. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có lực lượng kỹ thuật triển khai hoạt động KH&CN; hoạt động đổi mới công nghệ chưa được các doanh nghiệp quan tâm; chưa coi trọng việc xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ.

Tóm lại, hoạt động Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái thời gian qua chưa phát huy được vai trò động lực then chốt của Khoa học và Công nghệ, hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ kém phát triển, do vậy đóng góp cho tăng trường kinh tế thấp. Nguyên nhân có thể là do chưa nhận thức rõ được giá trị, vai trò của Khoa học và Công nghệ và dẫn đến việc đầu tư và công tác tổ chức, quản lý hoạt động Khoa học và Công nghệ của Yên Bái còn nhiều hạn chế, chưa theo mô hình Khoa học và Công nghệ tiên tiến. Thách thức đặt ra là phải đẩy mạnh được việc tăng cường đầu tư và xúc tiến các hoạt động ứng dụng, đổi mới Khoa học và Công nghệ từ phía doanh nghiệp; tạo ra cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp để phát triển mạnh các doanh nghiệp (giai đoạn khởi lập, ươm tạo), đặc biệt các doanh nghiệp thâm dụng công nghệ, doanh nghiệp các ngành nghề mới (công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ); thu hút đầu tư từ nước ngoài (FDI) và quản lý có hiệu quả hoạt động này (nâng cao tỷ lệ giải ngân). Thách thức tiếp theo là việc nhanh chóng thu hút, đào tạo để sớm có đội ngũ nhân lực Khoa học và Công nghệ có đủ trình độ, cơ cấu ngành nghề, năng lực thích hợp nhằm nâng cao được năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo ra được bước đi đột phá trong tăng trưởng kinh tế của Tỉnh; kịp thời nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác quản lý Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là quản trị công nghệ tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp của Tỉnh. Trong thời gian tới với quyết tâm chính trị cao, đổi mới tư duy về đầu tư cho Khoa học và Công nghệ, giải quyết các thách thức nêu trên và quyết tâm tổ chức lại hệ thống Khoa học và Công nghệ hoạt động theo mô hình Khoa học và Công nghệ của các nước công nghiệp mới thì kinh tế Yên Bái sẽ có bước phát triển tăng tốc. 

Nhìn chung, trong năm 2020 mặc dù chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19, thiên tai diễn biến bất thường nhưng Yên Bái vẫn có điểm sáng trong phát triển kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2020, tốc độ tăng tổng sản phẩm ước đạt 3,8%, sản xuất công nghiệp tăng trên 5%; thu ngân sách nhà nước ước đạt hơn 1.200 tỷ đồng, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tăng 6 bậc, kinh tế - xã hội của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với bình quân chung của cả nước và mặt bằng chung của khu vực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tiếp tục duy trì tăng trưởng, tính chung 9 tháng năm 2020 tăng 5,62% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng ước đạt 8.566,3 tỷ đồng (bằng 65,8% kế hoạch năm, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm 2019).

Qua kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của 62 doanh nghiệp năm 2020 kết hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái, nhóm đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp và ngành như sau:

Giải pháp 1: Doanh nghiệp tỉnh Yên Bái cần chủ động hướng tới tất cả ứng dụng công nghệ mà thời đại 4.0 đang phát triển, không chỉ là công nghệ số, kĩ thuật dữ liệu hay kĩ thuật vật lí, mà cả công nghệ sinh học và các công nghệ mới khác.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chế biến thực phẩm thì công nghệ sinh học rất quan trọng, có thể ứng dụng trong suốt chuỗi giá trị từ khi sản xuất nguyên liệu, thu hoạch trường trong việc thu hút người tiêu dùng, chế biến, bảo quản, phân phối…

Nếu biết kết hợp nhiều công nghệ mới để tạo ra những sản phẩm khác biệt, có giá trị độc đáo thì doanh nghiệp mới cạnh tranh được trên thị trường.

Giải pháp 2: tốc độ phát triển công nghệ kĩ thuật hay công nghệ thông tin đưa vào quản lí sản xuất, kinh doanh đều rất nhanh, nếu không sớm thích nghi, doanh nghiệp sẽ không thể phát triển.

Các doanh nhân cần tập trung mọi nỗ lực tạo nên những chuyển biến tích cực trong doanh nghiệp thông qua việc đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong môi trường 4.0, công nghệ, cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy sản phẩm làm trung tâm và sự ứng dụng công nghệ trong dây chuyền sản xuất. Đối với khoa học- công nghệ, người lãnh đạo, cán bộ quản lí cần:

- Đầu tư, tạo điều kiện cho những nhà khoa học, kĩ sư sáng chế, biến ý tưởng triển vọng thành sản phẩm 4.0 thực tế; Đầu tư đặc biệt cho những ý tưởng mang tính đột phá. Áp dụng thực sự các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất kinh doanh và quản trị kinh doanh.

- Quan tâm và lấy tính sáng tạo của sản phẩm khoa học, công nghệ làm tiêu chí cao nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm, cũng như đánh giá hiệu quả công việc và xác định mức thu nhập của các nhà khoa học, các kĩ sư sáng chế.

Giải pháp 3: không chỉ chú trọng đầu tư công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp cần phải thay đổi công nghệ quản trị. Với hệ thống quản trị doanh nghiệp mới, lãnh đạo doanh nghiệp có thể theo dõi, nắm bắt hàng ngày, hàng giờ tình hình sản xuất từ khâu mua, đưa nguyên liệu, vật liệu vào sản xuất đến khi đưa sản phẩm ra thị trường, tình hình thị trường và những biến động của giá cả để có thể có biện pháp giải quyết nhanh khắc phục những tình huống và sự cố bất lợi. Đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lí kinh tế; Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí kinh doanh

Giải pháp 4: Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao; tăng khả năng ứng dụng công nghệ thông tin.

Thời đại 4.0 đòi hỏi người lãnh đạo, quản lí kinh tế, các doanh nhân phải là những chuyên gia, vững về kiến thức chuyên môn có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kĩ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các chứng cứ và dữ liệu.

Các doanh nhân phải giải quyết bài toán về nguồn nhân lực, về huy động nguồn tài chính, về sử dụng nguồn vốn và chi phí có hiệu quả, cải thiện mô hình doanh nghiệp (DN)… nhưng không phải bằng cách đã làm trước đây mà phải bằng tư duy mới công nghệ mới trong chuỗi giá trị mới.

Trước làn sóng của cuộc CMCN 4.0, các doanh nhân, người lãnh đạo, cán bộ quản lí kinh doanh có sứ mệnh trở thành động cơ đổi mới mô hình của doanh nghiệp mà các doanh nhân đang vận hành nhằm đáp ứng những thay đổi của cuộc CMCN 4.0.

Các doanh nhân cần phải được đào tạo lại, cần thay đổi bản thân và doanh nghiệp của mình thành nơi sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao, nhiều hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghệ nhằm đáp ứng với thời đại mới.

Đào tạo, bồi dưỡng các doanh nhân theo các chuyên đề người lãnh đạo 4.0; Kết hợp học tập công nghệ 4.0 với chia sẻ kinh nghiệm giữa đồng nghiệp qua giao lưu, kiểm tra chéo, tham quan doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Duy trì và đẩy mạnh hoạt động của Câu lạc bộ Các nhà công thương Việt Nam để tạo môi trường sinh hoạt nghiệp vụ quản lí, tạo diễn đàn giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm, kết nối thông tin…

Việc đào tạo, quan tâm tới chất lượng nguồn nhân lực công nghệ cao được thực hiện trên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Nâng cao tính chuyên nghiệp, khả năng làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại của đội ngũ nhân lực.

Giải pháp 5, Về phía Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 16/CT-Ttg ngày 4-5-2017 về tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó yêu cầu các cấp các ngành tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và nhân lực công nghệ thông tin-truyền thông, phát triển hạ tầng kết nối số và đảm bảo an toàn, an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận cơ hội phát triển nội dung số.

Để thực hiện chỉ thị trên, tỉnh Yên Bái cần hỗ trợ các hoạt động nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thiết lập các cụm liên kết ngành, đào tạo liên ngành.

Ngân sách đầu tư công cần ưu tiên cho phát triển kết cấu hạ tầng gắn với việc cải thiện khả năng kết nối thông tin (mở rộng độ bao phủ, tăng tốc độ truy cập và hạ giá sử dụng Internet), phát triển thị trường vốn dài hạn cũng như thúc đẩy sự phát triển của các quỹ đầu tư mạo hiểm gắn với phát triển công nghệ và sáng tạo.

Giải pháp 6, Sở KH&CN Yên Bái cần nghiên cứu tham mưu cho tỉnh thành lập các Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật (tư vấn, ứng dụng chuyển giao KH&CN... có thể chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp KH&CN) để giúp cho các doanh nghiệp có định hướng đúng trong quá trình đổi mới công nghệ. Các trung tâm là đầu mối để chuyển giao, ứng dụng tiến bộ KH&CN từ các đề tài nghiên cứu khoa học của địa phương, cũng như là đầu mối để hỗ trợ tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ Trung ương. Các trung tâm này là đầu mối liên kết hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp địa phương với hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ từ Trung ương như Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, các chương trình đổi mới công nghệ theo các kênh hợp tác quốc tế của Bộ KH&CN và các bộ, ban ngành khác. Các Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật có nhiệm vụ tư vấn cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các công nghệ phù hợp; phát triển và hoàn thiện các ý tưởng về sản phẩm, dịch vụ và cải tiến dây chuyền công nghệ sản xuất; phát triển sản phẩm mới; kiểm định chất lượng sản phẩm... Đây là những dịch vụ hỗ trợ không thể thiếu nếu Yên Bái muốn phát triển nhanh hơn nữa cả về số lượng lẫn chất lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn.

Nguyễn Văn Quyền

Trưởng phòng quản lý Công nghệ và Chuyên ngành

 

15oC

Thấp nhất 13°C, cao nhất 17°C. Trời nhiều mây, . Áp suất không khí hPa.
Độ ẩm trung bình %. Tốc độ gió km/h